Đây là một trong hai chương trình củng cố, nâng cấp hoàn thiện hệ thống đê biển được thực hiện từ năm 2006, nhằm ngăn chặn những tác động bất lợi từ biển, tạo điều kiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và từng bước hình thành trục giao thông ven biển của nước ta.
Bờ biển Việt Nam có tổng chiều dài trên 3.200km nhưng do vùng ven biển là các vùng thấp, trũng nên thường xuyên bị đe doạ bởi thiên tai như lũ, thuỷ triều có biên độ lớn và những cơn bão gây nước biển dâng, sóng lớn.
Để chống ngập lụt, ngăn mặn bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, qua nhiều năm xây dựng, đến nay Việt Nam đã có hệ thống đê biển, đê cửa sông khép kín với chiều dài trên 3.000 km.
Đặc biệt, trước những thách thức về nguy cơ của nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời những đòi hỏi trong phát triển kinh tế, xã hội vùng ven biển, Chính phủ đã phê duyệt hai chương trình nâng cấp đê biển các tỉnh ven biển, bao gồm chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam từ năm 2006; Chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang từ năm 2009 đến năm 2020 với tổng mức đầu tư 19.481 tỷ đồng.
Căn cứ vào tầm quan trọng của khu vực bảo vệ, các cơ quan chức năng đã xác định tiêu chuẩn thiết kế đê biển phù hợp, mức tối thiểu cũng phải chống được bão cấp 9 và thủy triều ứng với tần suất 5%, theo thứ tự các khu đô thị và khu dân cư tập trung; các công trình quốc phòng, an ninh; khu kinh tế, văn hóa và hạ tầng quan trọng, sau cùng là khu vực sản xuất nông nghiệp.
Lựa chọn tuyến đê qua vùng có địa thế cao, có địa chất nền tương đối tốt đảm bảo ổn định và cách xa khu vực sạt lở. Trước tuyến đê phải có bãi trồng rừng ngập mặn có chiều rộng từ 500m - 1.000m. Đồng thời tận dụng tối đa các cồn cát, đồi núi, công trình đã có để hoàn thiện tuyến đê nối tiếp bền vững với các vị trí ổn định.
Đối với đê vùng cửa sông phải đảm bảo không ảnh hưởng đến thoát lũ, cách xa bờ sông khu vực đang bị sạt lở. Riêng tuyến đê lựa chọn kết hợp phục vụ giao thông ven biển phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn của ngành giao thông.
Còn đối với đoạn bờ biển bị xói lở, phải nghiên cứu, xem xét kỹ việc di dân và lùi tuyến đê vào phía trong. Trường hợp không thể lùi thì xây dựng công trình chống xói lở và có các biện pháp gây bồi, giữ bãi.
Việc cải tạo cống cũ, xây dựng cầu, cống mới trên các tuyến đê ven biển phải đảm bảo ngăn được nước và phù hợp với quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, kiểm soát mặn xâm nhập, có thể kết hợp với khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền.
Trước mắt, tập trung thực hiện ở những nơi có nhu cầu ngọt hóa, giao thông cao, còn lại sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn của Chương trình.
Tăng cường quan trắc, nghiên cứu, đánh giá hiện tượng xói lở đê biển theo mùa, do tác động bất lợi của thiên nhiên hoặc những tác động chưa phù hợp của con người kịp thời đề xuất các giải pháp cả trước mắt và lâu dài để phòng tránh hoặc thích ứng với những tác động đó, đảm bảo an sinh và phát triển bền vững của các địa phương ven biển.
Việc trồng rừng ngập mặn ven được xem là giải pháp quan trọng và bắt buộc trong kế hoạch thực hiện chương trình, nhằm phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, sinh thái và giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Vì vậy, các địa phương phải tập trung nguồn lực, nhất là huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ, bảo tồn những khu vực đã có rừng cây trước đê, đảm bảo rừng cây có chiều rộng từ 500m - 1.000m.
Từng địa phương phải có quy hoạch, kế hoạch tạo bãi để trồng cây chắn sóng khu vực trước đê. Trên hai mái đê phải được trồng cỏ hoặc bảo vệ mái đê bằng vật liệu cứng phù hợp, đảm bảo chống xói lở cho đê.
Hiện công tác tổ chức khảo sát, đo đạc, điều tra cơ bản từng vùng, từng địa phương, trên cơ sở đó rà soát lại quy hoạch hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang đã và đang được các cơ quan chức năng trung ương và địa phương tích cực triển khai, với phương châm đảm bảo phù hợp với chương trình, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển, quy hoạch phát triển của ngành, của từng địa phương, có tính tới sự thích ứng với tác động xấu của biến đổi khí hậu trong những năm tới.
Văn Hào(VFEJ, 18/12/2009)